• Slide show 01
  • Slide show 02
  • Slide show 01
  • Slide show 04
Một số kiến thức về pháp luật

Một số quy định pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ

 

Nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật để làm đúng những quy định của pháp luật là yêu cầu hết sức cần thiết đối với lực lượng bảo vệ.
Luật pháp Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện để đáp ứng  công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.
Trong công tác hằng ngày của lực lượng bảo vệ chúng ta thường gặp những vụ việc liên quan đến Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.

I. Một số quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình  sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự có liên quan đến công tác bảo vệ.
A.    Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự:
Nhiệm vụ cơ bản của bộ luật hình sự  là nhằm bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ quyền làm chủ tập thể của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN chống mọi hành vi phạm tội đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Bộ luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội. Chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự  quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt do toà án quyết định.
1.    Tội phạm:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự  pháp luật XHCN.
- Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong bộ luật này. Tội phạm được phân thành: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
    Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của§ khung hình phạt này đối với tội ấy là đến ba năm tù.
    Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt này đối với tội ấy là đến bảy năm tù.§
    Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình  phạt này đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù.§
    Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt này đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, chung thân hoặc tử  hình.§
-    Những hành vi tuy có dấu hiệu phạm tội, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

•    Một số hành vi sau đây thì không phải là tội phạm:
-    Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó (điều 11 bộ luật hình sự  1999).
-    Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Đối với người này phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
-    Phòng vệ chính đáng: là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
-    Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
-    Tự  ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện phạm tội đến cùng, tuy không có gì ngăn cản (nếu hành vi đó thực tế đã được thực hiện có đủ yếu tố của một tội phạm khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này).
•    Những hành vi sau đây phải coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự:
    - Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hành vi đó xảy ra, hoặc thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (cố ý phạm tội).§
    - Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.§
    - Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó (vô ý phạm tội).§
    - Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác.§
    - Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (là hành vi) chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.§
    - Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.§
    - Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện.§
    - Người cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì  những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.§
    - Người nào sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che dấu tội phạm, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử  lý người phạm tội.§
    - Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện và không tố giác.§
    - Người không tố giác là ông bà, cha mẹ, con cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng.§
    - Người cùng thực hiện tội phạm hoặc những kẻ thừa hành, xúi dục, tổ chức, giúp sức.§
2.    Hình phạt:
Khái niệm: hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong bộ luật hình sự  và do toà án quyết định.
- Mục đích: hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
- Hình phạt bao gồm: hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
-    Hình phạt chính: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình.
-    Hình phạt bổ sung: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính.
Khi xử phạt không quá 5 năm căn cứ vào nhân thân người phạm tội về tình tiết giảm nhẹ, nếu không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù thì toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 đến 05 năm. An treo không phải là hình phạt.

B.    Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự:
1. Nhiệm vụ:
Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành  án hình sự, chức năng, nhiệm vu, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng và của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Bộ luật góp phần bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc của cuộc sống.
Khi tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể, bảo vệ tính mạng và sức khoẻ, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân, đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về chổ ở, an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín của công dân.
Không ai có thể bị coi là có tội nếu chưa có bản án nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Toà án.
Trước Toà án những người tham gia tố tụng đều có quyền bình đẳng, bị can, bị cáo được đảm bảo quyền bào chữa. Bộ luật còn đảm bảo quyền khiếu nại và quyền tố cáo của công dân đối với các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.
2. Chứng cứ:
Là những gì có thật được thu thập theo trình tự do Bộ luật tố tụng hình sự quy định mà cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như trình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Chứng cứ  được xác định bằng:
-    Vật chứng: là những vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết phạm tội, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và những vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người bị buộc tội.
-    Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn và bị đơn dân sự, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
-    Kết luận giám định.
-    Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu khác.
3. Quy định quyền ra lệnh bắt khám xét:
-    Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì việc ra lệnh bắt khám xét được quy định trong 03 trường hợp:
    Bắt khám xét người, nhà ở, đồ vật, thư  tín trong trường hợp bình thường.§
    Bắt khám xét người, nhà ở, đồ vật, thư  tín trong trường hợp khẩn cấp.§
    Bắt khám xét người trong trường hợp quả tang.§
-  Chỉ có những người sau đây mới có quyền ra lệnh bắt người và khám xét trong mọi trường hợp:
-    Viện trưởng và Phó viện trưởng viện kiểm sát nhân dân và viện kiểm sát quân sự các cấp.
-    Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp.
-    Thẩm phán Toà án nhân dân cấp Tỉnh hoặc Toà án quân sự cấp quân khu trở lên, chủ tọa phiên toà.
-    Trưởng, Phó công an cấp huyện, thủ  trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên. Trong trường hợp này lệnh bắt phải được Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn trước khi thực hiện.
-    Bắt người và khám xét khẩn cấp chỉ được tiến hành với 01 trong 03 trường hợp sau:
+ Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm, chính mắt trong thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay người đó trốn.
+ Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chổ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.
-    Chỉ những người sau đây có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp:
+ Trưởng, Phó công an cấp Huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp quân khu và cấp Tỉnh trở lên.
+ Người Chỉ huy các đơn vị quân đội độc lập, cấp trung đoàn, người Chỉ huy bộ đội biên phòng ở hải đảo hoặc biên giới.
+ Người Chỉ huy máy bay, tàu biển. Khi máy bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
-    Trong mọi trường hợp bắt khẩn cấp phải báo ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp biết bằng văn bản để xét phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt.
-    Đối với người phạm tội quả tang thì bất cứ  người nào cũng có quyền bắt và tước vũ khí của người bị bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất.

II. Nắm vững một số quy định của Pháp luật trong công tác bảo vệ
1.    Nhiệm vụ của lực lượng bảo vệ:
-    Trước hết phải hiểu, nắm vững và nghêm chỉnh pháp luật Nhà nước, nêu cao tinh thần trách nhiệm đôn đốc mọi người nơi mình công tác thi hành luật pháp, tuyên truyền để mọi người hiểu, sống và làm việc theo pháp luật.
-    Giúp Chủ quản đề ra chế độ, nội quy, quy chế biện pháp nhằm bảo vệ an toàn mục tiêu.
-    Đối với các trường hợp vi phạm pháp luật, nội quy,  quy chế của Chủ quản phải có ý kiến đề xút xử lý nghiêm minh tạo môi trường tốt trong việc tôn trọng lụat   pháp ở mục tiêu.
-    Ngoài ra bảo vệ phải phối hợp với Cơ quan chứ năng để tiến hành tố tụng hình sự; tố giác và báo tin về tội phạm; Bảo vệ tốt hiện trường.
2.    Việc bắt giữ người phạm tội quả tang:
Điều 6 Nghị định 223/HĐNT ngày 19/6/1990 của Hộ đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quy  định bảo vệ có nhiệm vụ, quyền hạn “Bắt giữ  và lập biên bản những người có hành động phạm tôi quả tang xâm phạm an ninh, bí mật, tài sản và trật tự của Cơ quan, Xí nghiệp dẫn giải đến Cơ quan Công an để xử lý”.
a.Thế nào là phạm tội quả tang:
Là trường hợp phạm tội có đủ chứng cứ rõ ràng bất cứ mọi người công dân nào trông thấy cũng biết đó là hành vi phạm tội, không cần phải qua điều tra, nghiêm cứu lâu dài mới xác định được là tội phạm.
b.Các trường hợp phạm tội quả tang:
Chỉ có hai trường hợp sau đây xác định là phạm tội quả tang:
-    Đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
Trong trường hợp này kẻ phạm tộ đang hành động thực hiện tội phạm hoặc sau khi hành động thực hiện tội phạm thì mọi người trông thấy, phát giác ngay, kẻ phạm tội chưa kịp chạy trốn, chưa kịp cất giấu vũ khí tang vật.
Ví dụ: Đang lấy cắp tài sản; Đang mang tài sản lấy cắp; Đang vẽ viết khẩu hiệu phản động.
-    Đang bị đuổi bắt sau khi phạm tội. Đây là trường hợp tiếp diễn của trường hợp nói trên. Kẻ phạm tội sau khi có hành động thực hiện phạm tội bị phát giác ngay khi chạy trốn người bị hại hoặc quần chúng đuổi bắt được.
Cần phải chú ý là hành động xảy ra phải liên tục, nghĩa là người phát hiện ra kẻ phạm tội và đuổi bắt chúng phải liên tục nhìn thấy và xã định đúng kẻ phạm tội. Nếu trường hợp kẻ phạm tội đã thực hiện tội phạm rồi bị đuổi bắt, nhưng không bắt được ngay, nay mới phát hiện được thì không coi là phạm tội quả tang và không được bắt giữ. Trường hợp này phải đến báo cáo với Cơ quan điều tra yêu cầu bắt giữ.
-    Trường hợp đang bị truy nã: có hai trường hợp:
+ Một là: Kẻ phạm tội bị Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát, Toà án Nhân dân ra lệnh bắt, nhưng vẫn trốn tránh không ra đầu thú.
+ Hai là: Kẻ phạm tội bị bắt giữ nhưng vượt trại giam hay kẻ phạm tội đã bị Toà án xét xử hoặc tù nhân đang bị giamgiữ mà trốn tù.
Quyết định truy nã phải ghi rõ họ tên, tuổi, trú quán, đặc điểm nhận dạng, dán ảnh kèm theo (nếu có) và các hành vi phạm tội. Quyết định truy nã phải được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người biết phát hiện bắt giữ người bị truy nã.
c. Quyền hạn, thủ tục bắt, khám xét người phạm tội quả tang:
Tất cả Cán bộ chiến sĩ bảo vệ đều có quyền bắt giữ kẻ phạm tội quả tang.
Căn cứ quyền hạn của lực lượng bảo vệ trong khi làm nhiệm vụ được quy định ở Nghị định 223/HĐBT thì lực lượng bảo vệ được phép khám người, đồ vật của kẻ phạm tội quả tang trong phạm vi các vụ phạm tội quả tang xảy ra trong Cơ quan, Xí nghiệp mình bảo vệ (ở đây không nói đến việc kiểm tra túi xách, cặp, hộp,….. của Cán bộ, công nhân viên ra vào Cơ quan theo Nội quy, quy định của Cơ quan, Xí nghiệp đó).
Trong khi làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác bảo vệ Cơ  quan, Xí nghiệp của mình nếu phát hiện người nào có triệu chứng phạm tội như nghi có tài sản trộm cắp; nghi giả dạng lừa đảo,…  thì có thể kiểm tra giấy tờ, căn cước và báo cho người có trách nhiệm để báo Cơ quan Công an đến giải quyết.
Lực lượng bảo vệ không được phép tạm giữ kẻ phạm tội quả tang. Sau khi bắt giữ phải giải ngay kẻ phạm tội kèm theo tang vật đến Cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất.

 

d. Lập biên bản phạm tội quả tang:
Biên bản phạm tội quả tang phải đảm bảo yêu cầu chính xác, khách quan, đúng thủ tục, đúng pháp luật.
Tất cả Cán bộ, nhân vên bảo vệ đang làm nhiệm vụ đều có thể lập biên bản phạm tội quả tang, nhưng các biên bản này phải thông qua và có chữ ký của Trưởng phó phòng ban bảo vệ của Cơ quan, Xí nghiệp.
Khi lập xong biên bản phải đọc lại cho người phạm tội và người làm chứng,  người bị hại nghe công nhận đúng và cùng ký tên vào biên bản. Người lập biên bản phải ghi rõ họ tên, chức vụ, đơn vị công tác và ký tên vào biên bản.
Về tang vật của kẻ phạm tội được thu giữ phải ghi rõ số lượng, trọng lượng, tình trạng, đặc điểm,…. Của từng tang vạt không được ghi chung chung, phải bảo quản chu đáo cho đến khi giao cho Cơ quan nhận tội phạm.